
Thoái hóa cột sống cổ là tình trạng thoái hóa sụn khớp và/hoặc đĩa đệm ở cột sống cổ và các thành phần xung quanh như cơ cạnh cột sống, dây chằng… bệnh lý mạn tính này khá phổ biến, tiến triển chậm, thường gặp ở người lớn tuổi và/hoặc liên quan đến tư thế vận động làm việc. Có thể gặp thoái hóa ở bất kỳ đoạn nào song đoạn C5-C6-C7 là thường gặp nhất.
Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ?
Thoái hóa cột sống cổ là hậu quả tình trạng chịu áp lực quá tải kéo dài lên sụn khớp và đĩa đệm lặp đi lặp lại kéo dài trong nhiều năm dẫn đến sự tổn thương sụn khớp, phần xương dưới sụn, mất tính đàn hồi của đĩa đệm, xơ cứng dây chằng bao khớp tạo nên những triệu chứng và biến chứng trong thoái hóa cột sống. Tình trạng này chịu tác động bởi nhiều yếu tố: tuổi cao; nghề nghiệp lao động nặng; một số yếu tố khác như: tiền sử chấn thương cột sống, tiền sử phẫu thuật cột sống, yếu cơ, di truyền, tư thế lao động và học tập …
Triệu chứng gợi ý bạn bị thoái hoá cột sống cổ?
– Triệu chứng đau: đau có thể kèm theo co cứng vùng cơ cạnh cột sống cổ cấp hoặc mạn tính; triệu chứng đau tăng lên ở tư thế cổ thẳng hoặc cúi đầu kéo dài, mệt mỏi, căng thẳng, lao động nặng, thay đổi thời tiết đặc biệt bị nhiễm lạnh; có điểm đau cột sống cổ; hạn chế vận động cột sống cổ.
– Tùy theo vị trí rễ tổn thương (một bên hoặc cả hai bên) mà đau lan từ cổ xuống tay bên đó. Có thể đau tại vùng gáy, đau quanh khớp vai. Đau sâu trong cơ xương, bệnh nhân có cảm giác nhức nhối; có thể kèm cảm giác kiến bò, tê rần dọc cánh tay, có thể lan đến các ngón tay. Đau tăng lên vận động cộ sống cổ ở các tư thế (cúi, ngửa, nghiêng, quay) hoặc khi ho, hắt hơi, ngồi lâu… Có thể kèm theo hiện tượng chóng mặt, yếu cơ hoặc teo cơ tại vai, cánh tay bên tổn thương.
– Ngoài ra, bệnh nhân còn có thể nhức đầu vùng chẩm, thái dương, trán và hai hố mắt thường xảy ra vào buổi sáng; có khi kèm chóng mặt, ù tai, hoa mắt, mờ mắt, nuốt vướng; đau tai, lan ra sau tai, đau khi để đầu ở một tư thế nhất định.
– Khi bệnh diễn tiến nặng, bệnh nhân có thể có biểu hiện của hội chứng chèn ép tủy: tùy theo mức độ và vị trí tổn thương mà biểu hiện chỉ ở chi trên hoặc cả thân và chi dưới. Dáng đi không vững, đi lại khó khăn; yếu hoặc liệt chi, teo cơ ngọn chi, dị cảm. Tăng phản xạ gân xương.
– Biểu hiện khác bao gồm: dễ cáu gắt, thay đổi tính tình, rối loạn giấc ngủ, giảm khả năng làm việc hay học tập…
Tùy theo vị trí cột sống cổ bị tổn thương mà có thể xuất hiện riêng lẻ hoặc đồng thời các biểu hiện trên.
Các bác sĩ sẽ hỏi bệnh sử kĩ càng và thăm khám lâm sàng một cách cẩn thận. Sau đó các xét nghiệm cận lâm sàng có thể được đưa ra để hỗ trợ chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý khác:
- X quang cột sống cổ thường qui với các tư thế sau: thẳng, nghiêng, chếch ¾ trái và phải.
- Chụp cộng hưởng từ (MRI) cột sống cổ: phương pháp có giá trị nhất nhằm xác định chính xác vị trí rễ bị chèn ép, vị trí khối thoát vị, mức độ thoát vị đĩa đệm, mức độ hẹp ống sống, đồng thời có thể phát hiện các nguyên nhân ít gặp khác (viêm đĩa đệm đốt sống, khối u, …).
- Chụp CT-scan.
- Điện cơ: giúp phát hiện và đánh giá tổn thương các rễ thần kinh.
- Các xét nghiệm khác
Cần chẩn đoán phân biệt thoái hoá cột sống cổ với các bệnh lý: các chấn thương vùng cột sống cổ gây tổn thương xương và đĩa đệm, các ung thư xương hoặc di căn xương, các bệnh lý tủy xương lành tính hoặc ác tính, u nội tủy, u thần kinh, bệnh lý của hệ động mạch sống nền.
Điều trị thoái hoá cột sống cổ như thế nào?
– Cần phối hợp dùng thuốc kháng viêm, giảm đau, dãn cơ và nhóm thuốc chống thoái hóa tác dụng chậm như glucosamine sulfate hoặc phối hợp với chondroitin sulfate; hoặc diacerein…
Có thể sử dụng phối hợp với các thuốc giảm đau thần kinh khi bệnh nhân có biểu hiện đau kiểu rễ như: Gabapentin, Pregabalin, bổ sung các vitamin nhóm B (B1, B6, B12), Mecobalamin
– Phục hồi chức năng: cần thực hiện các bài tập vận động vùng cổ, đặc biệt với bệnh nhân đã mang nẹp cổ thời gian dài, bệnh nhân có công việc ít vận động vùng cổ.
– Luyện tập, thay đổi lối sống nhằm bảo vệ cột sống cổ, tránh tái phát
– Nghỉ ngơi, giữ ấm, tránh thay đổi tư thế cột sống cổ đột ngột.
– Các liệu pháp vật lý trị liệu: sử dụng nhiệt, sóng siêu âm… Có thể kéo dãn cột sống cổ song nên thực hiện với mức độ tăng dần từ từ.
Chỉ định điều trị ngoại khoa áp dụng trong các trường hợp: có biểu hiện chèn ép rễ thần kinh hoặc tủy sống tiến triển nặng, trượt đốt sống độ 3-4 hoặc đã thất bại với điều trị nội khoa và phục hồi chức năng.
PHÒNG BỆNH
– Phát hiện và điều trị sớm các dị tật cột sống cổ.
– Tránh các tư thế cột sống cổ bị quá tải do vận động và trọng lượng, tránh các động tác mạnh đột ngột tại cột sống cổ…
