- Đại cương:
- Là sự mất liên tục của xương bánh chè sau một chấn thương vùng gối, hay gặp nhất là gãy xương bánh chè do một lực tác động trực tiếp vào trước gối thường là gãy hở, do lực tác động gián tiếp ít gặp hơn, là do gối co đột ngột chống lại nhóm cơ tứ đầu đùi đang co, thường là gãy kín.
- Gãy xương bánh chè chiếm 1% trong các loại gãy xương, tỷ lệ nam: nữ là 2:1, thường xảy ra từ 20-50 tuổi.
- Gãy bánh chè tay áo hay gặp ở nhi từ 8-10 tuổi.
II.Đặc điểm giải phẫu.
- Xương bánh chè là xương vừng lớn nhất trong cơ thể
- Sụn khớp dày nhất lên đến 1cm
- Hầu hết máu cung cấp cho xương bánh chè nằm ở cực dưới bánh chè

III. Tiêu chuẩn chẩn đoán
- Lâm sàng
Bệnh sử : Đau cấp tính vùng trước gối, dữ dội, gối sưng, có thể kèm sưng nề phần mềm quanh khớp.
Khám lâm sàng:
- Tình trạng da, phần mềm trước gối có vết thương, có thông vào ổ gãy không.
- Sờ xác định chỗ khuyết dưới các mảnh bánh chè gãy, điểm đau chói, tiếng lạo xạo, cử động bất thường.
- Khi gãy bánh chè di lệch nhiều bệnh nhân không thể duỗi chủ động gối được: cho bệnh nhân nằm ngửa, gối thẳng, nhấc cao gót không được.
- Cận lâm sàng
- X quang thường qui: phim thẳng, phim nghiêng, phim tiếp tuyến bánh chè. Cho chẩn đoán xác định gãy xương bánh chè, mức độ di lệch, phân loại gãy. Phim nghiêng thấy rõ nhất trường hợp gãy ngang, gãy nhiều mảnh.
- Bánh chè có dị tật hai mảnh: trên phim thẳng thấy một mảnh nhỏ có vỏ xương rõ, ở góc trên ngoài bánh chè dễ nhầm với gãy xương cực trên bánh chè, gặp ở 8 % dân số, hầu như bị ở hai bên (50%). Nên chụp phim thẳng bên đối diện để chẩn đoán loại trừ.

- Chụp tiếp tuyến bánh chè thấy rõ vị trí gãy trên rãnh ròng rọc ở đầu dưới xương đùi, gãy dọc xương bánh chè, gẫy khuyết xương sụn bánh chè.
- Có thể chụp thêm CT SCANS: ít khi cần thiết.
- Chụp cộng hưởng từ: có thể giúp xác định gãy bong cực dưới bánh chè, giúp chẩn đoán đứt gân tứ đầu, đứt gân bánh chè một phần khi khám lâm sàng và Xx quang không giúp chẩn đoán được.
- Phân độ

- Điều trị – theo dõi – tái khám
1 Điều trị bảo tồn
1.1 Chỉ định – phương pháp điều trị:
- Gãy kín, di lệch < 3 mm, cấp kênh mặt khớp < 2mm
- Gãy di lệch kèm bệnh nội khoa nặng, nhu cầu hoạt động ít
- Gãy dọc, không mất duỗi
- Phương pháp: đặt nẹp gối 4 – 6 tuần; bệnh nhân không hợp tác tốt thìì làm bột ống, tập sớm sau 2-3 tuần
1.2 Thuốc sử dụng:
- Thuốc giảm đau
- Thuốc giảm đau kháng viêm NSAID ( dạng chích và uống)
- Giảm phù nề
- Thuốc chống loãng xương
1.3 Theo dõi: nêu rõ các dấu hiệu cần theo dõi; thời gian theo dõi tại nhà. Theo dõi chèn ép bột, nẹp.
1.4 Tái khám: Theo dõi dấu hiệu lành xương dựa trên lâm sàng và Xx- quang 6 – 12 tháng.
1.5 Tập phục hồi chức năng chân bệnh, hoạt động trị liệu và tái sức lao động cho người bệnh.
2 Điều trị phẫu thuật
2.1 Chỉ định – phương pháp điều trị
- Chỉ định:
- Gãy kín di lệch > 3 mm, cấp kênh mặt khớp > 2mm
- Gãy hở
- Phương pháp:
- Néo ép: dùng kim Kirschner xuyên dọc trục hay bắt vít néo ép số 8 bằng chỉ thép, có thể tăng cường thêm vòng chỉ thép quanh chè đặc biệt đối với trường hợp gãy nát.
- Lấy bỏ một phần bánh chè: chỉ định một số gãy nát phạm khớp hay gãy nát cực trên hay cực dưới khó kết hợp xương. Lấy bỏ các mảnh nhỏ phần gãy nát, giữ lại phần gãy mảnh lớn, kết hợp xương lại như gãy ngang thân xương bánh chè. Trường hợp gãy nát ở bờ bánh chè, mảnh xương nhỏ nên lấy bỏ để ngăn sinh chồi xương, phần dây chằng hay gân còn lại được khâu lại.
- Lấy bỏ toàn bộ xương bánh chè: trường hợp gãy nát nhiều và phạm khớp, kết hợp xương khó khăn, có thể lấy bỏ toàn bộ xương bánh chè là biện pháp xử lý tốt nhất. Sau đó tái tạo lại gân cho bộ máy duỗi: khâu trực tiếp gân có thể áp dụng được cho trường hợp vùng khuyết khoảng 3 – 4 cm. nếu khâu không được có thể tạo hình gân hình chữ V ngược. Sau phẫu thuật bất động thêm bên ngoài bằng nẹp vải hay nẹp bột đùi bàn chân.
Kết hợp xương bánh chè
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP KHÁC



2.2 Theo dõi
Sự lành vết thương, nhiễm trùng sau mổ, nắn chỉnh trên phim Xquang, xem xét cho phép cử động gối dựa trên độ vững của việc KHX sau mổ từ 7-10 ngày.
2.3 Tái khám
- Theo dõi lành xương trên lâm sàng sau 6 tuần.
- Sau 3 tháng tiến hành gập duỗi gối mạnh.
- Sau 6 tháng chụp phim Xquang lại, tập luyện thể thao trở lại bình thường.
- Biến chứng
- Nhiễm trùng
- Gãy kim Kkirschner, vít, đứt chỉ thép, gãy lại ại
- Vết thương khó lành, hoại tử da trước bánh chè
- Viêm túi hoạt dịch trước bánh chè do dụng cụ kích thích
- Bánh chè lên cao: làm giới hạn gấp gối
- Không lành xương: tương đối hiếm (<5%), có thể tiến hành cắt bán phần xương bánh chè
- Còn di lệch
- Viêm khớp sau chấn thương
- Mất tầm vận động khớp gối
- Thoái hóa khớp gối
- Bánh chè phì đại
Kết hợp xương bánh chè
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP KHX
2.2 Theo dõi
Sự lành vết thương, nhiễm trùng sau mổ, nắn chỉnh trên phim Xquang, xem xét cho phép cử động gối dựa trên độ vững của việc KHX sau mổ từ 7-10 ngày.
2.3 Tái khám
Theo dõi lành xương trên lâm sàng sau 6 tuần.
Sau 3 tháng tiến hành gập duỗi gối mạnh.
Sau 6 tháng chụp phim Xquang lại, tập luyện thể thao trở lại bình thường.
- Biến chứng
Nhiễm trùng
Gãy kim Kkirschner, vít, đứt chỉ thép, gãy lại ại
Vết thương khó lành, hoại tử da trước bánh chè
Viêm túi hoạt dịch trước bánh chè do dụng cụ kích thích
Bánh chè lên cao: làm giới hạn gấp gối
Không lành xương: tương đối hiếm (<5%), có thể tiến hành cắt bán phần xương bánh chè
Còn di lệch
Viêm khớp sau chấn thương
Mất tầm vận động khớp gối
Thoái hóa khớp gối
Bánh chè phì đại
